User Tools

Site Tools


489331-h-n-n-c-la-gi

Giản đồ các nước thời Chiến Quốc[1]

Hàn quốc (Phồn thể: 韓國; Giản thể: 韩国) là một quốc gia chư hầu trong thời kỳ Chiến Quốc tại Trung Quốc. Nhà nước này tồn tại từ khoảng năm 403 TCN, khi Hàn Cảnh hầu được Chu Uy Liệt vương phong tước Hầu, cho tới năm 230 TCN khi Hàn vương An bị quân Tần bắt sống.

Lãnh thổ của nước Hàn trải rộng trong khu vực ngày nay là miền nam tỉnh Sơn Tây, miền bắc tỉnh Hà Nam. Phía tây giáp với Tần, phía bắc giáp Ngụy và Triệu, phía đông giáp Tề, phía nam giáp Sở. Như thế nước Hàn chắn ngang lối thông ra vùng bình nguyên Hoa Bắc của Tần, do đó Hàn thường xuyên trở thành mục tiêu cho các hoạt động quân sự của Tần. Mặc dù nước Hàn đã có vài lần cải cách để cố gắng trở nên hùng mạnh, đáng chú ý là dưới thời kỳ nắm quyền của tướng quốc theo phái Pháp gia là Thân Bất Hại, nhưng Hàn không bao giờ có thể vượt qua nổi Tần. Trên thực tế, Hàn là nước đầu tiên trong số 6 quốc gia lớn bị Tần tiêu diệt.

Cuộc xâm lăng của Tần vào quận Thượng Đảng (上党郡) của Hàn có lẽ là chiến dịch đẫm máu nhất trong thời kỳ này, với trận đánh then chốt là trận Trường Bình năm 260 TCN.

Theo Sử ký, gia tộc họ Hàn có nguồn gốc từ quý tộc nhà Chu, mà do đó cùng mang họ Cơ, thuộc dòng dõi của vị quân chủ đầu tiên của nước Tấn Đường Thúc Ngu.

Cuối thế kỷ thứ 8 đầu thế kỷ thứ 7 TCN, cuộc tranh chấp ngôi vị quân chủ nước Tấn giữa dòng trưởng và dòng thứ nổ ra. Dòng thứ với thủy tổ Khúc Ốc Hoàn Thúc Cơ Thành Sư dần có ưu thế. Trong cuộc tranh danh ngôi vị này, con thứ của Cơ Thành Sư là Cơ Vạn đóng vai trò đắc lực. Vì vậy, khi Tấn Vũ công lên ngôi, đã phong cho chú mình đất Hàn Thành là thực ấp. Từ đó Cơ Vạn được gọi là Hàn Vạn, trở thành thủy tổ của các đời quân chủ nước Hàn sau này, được con cháu dâng tôn hiệu là Hàn Vũ tử.

Gia tộc Hàn với căn cứ Hàn Thành, lại xuất thân quý tộc quân chủ, nhiều đời làm quan khanh, nhanh chóng phát triển thành một thế lực chính trị của nước Tấn, dần trở thành một trong Lục khanh của nước Tấn.

Sau những cuộc tranh giành đẫm máu, Lục khanh chỉ còn lại 3 nhà có thế lực lớn nhất. Năm 403 TCN, Hàn Kiền, cùng Ngụy Tư và Triệu Tịch đã cùng nhau chia sẻ nước Tấn một thời hùng mạnh ra thành ba nước, gọi là Hàn, Ngụy và Triệu, được một số sử gia coi là khởi đầu thời kỳ Chiến Quốc cũng như Hàn trở thành một thể chế chính trị độc lập. Chu Uy Liệt vương buộc phải công nhận các nước chư hầu mới này và phong cho họ tước hầu.

Đỉnh cao của nước Hàn là trong thời kỳ trị vì của Hàn Ly hầu (hay còn gọi là Hàn Chiêu hầu) Hàn Vũ. Hàn Ly hầu dùng Thân Bất Hại (申不害, ?-337 TCN) làm tướng quốc và áp dụng các triết lý Pháp gia của Thân Bất Hại. Các chính sách của Thân Bất Hại đã giúp củng cố và tăng cường sức mạnh cho nước Hàn, làm cho hầu quốc này trở thành một xã hội tiểu khang. Tới năm 323 TCN Hàn Uy hầu (Hàn Khang) đã tự xưng vương, tức Hàn Tuyên vương (hay Hàn Tuyên Huệ vương).

Trên thực tế Hàn là nước bị bao vây cả bốn mặt bởi các quốc gia hùng mạnh khác như Sở ở phía nam, Tề ở phía đông, Tần ở phía tây, Triệu và Ngụy ở phía bắc. Hàn lại là nước nhỏ nhất trong số Thất hùng, và liên tục bị các cường quốc này áp bức về mặt quân sự. Trong sự suy tàn dần dần của mình, Hàn đánh mất dần quyền lực để có thể tự bảo vệ lãnh thổ của mình và buộc phải cầu viện từ các quốc gia khác khi đối mặt với các cuộc xâm lăng. Cuối cùng, Hàn trở thành nước đầu tiên trong số Lục quốc bị Tần tiêu diệt năm 230 TCN.

Người nổi tiếng nhất của Hàn có lẽ là triết gia Hàn Phi của Pháp gia. Những người nổi tiếng khác còn có Thân Bất Hại, Hiệp Luy, Bộc Diên, Trịnh Quốc.

  1. ^ ”MDBG”, Sökord: 战国策
  2. ^ a ă â b c Tham khảo theo Hàn thị tam thiên niên.
  3. ^ Trước 323 TCN.
  4. ^ Thời gian trị vì từ Hàn Ai hầu tới Hàn Chiêu hầu căn cứ theo lịch sử Chiến Quốc để hiệu chỉnh.
489331-h-n-n-c-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:10 (external edit)